GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN VÀ SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

8

MỞ ĐẦU

Thế giới đã, đang và sẽ có nhiều biến đổi, song chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn tỏa sáng giá trị trường tồn và sức sống mãnh liệt của mình trong cuộc sống của nhân loại tiến bộ. Vì vậy, nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc sống là cần thiết và hữu ích. Nó giúp chúng ta định vị đúng đắn cuộc sống, đồng thời góp phần loại bỏ những quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc, thiếu văn hóa và phản tiến bộ.

  1. Giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay

Lịch sử phát triển của loài người tiến từ thấp đến cao (xen kẽ những hình thái kinh tế – xã hội và thời kỳ quá độ giữa chúng). Nếu thời kỳ lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII là thời đại quá độ từ chủ nghĩa phong kiến lên chủ nghĩa tư bản, thì thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới được bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga – Đó là quy luật tất yếu khách quan. Nhận xét về thời đại ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất…. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuận vốn có… Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[1].

Thực tiễn xã hội loài người đã chỉ ra rằng, trong mỗi thời đại lịch sử thường có nhiều học thuyết xã hội tác động, ảnh hưởng (ít, nhiều) đến sự phát triển xã hội; song có một học thuyết tiêu biểu giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho sự phát triển nhân loại, Chủ nghĩa Mác – Lênin (gồm 3 môn khoa học cấu thành: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học) được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xây dựng và phát triển dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, tinh hoa tư tưởng văn hóa và kinh nghiệm thực tiễn của nhân loại, đã và đang giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho sự phát triển của xã hội loài người.

Một là, Triết học Mác – Lênin: gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa dụy vật lịch sử với những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật mang tính phổ quát, tác động chi phối toàn bộ thế giới (giới tự nhiên, xã hội, con người, tư duy) đã, đang là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của nhận thức và thực tiễn.

Trọng thời đại ngày nay, thế giới có nhiều biến đổi (kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, kinh tế tuần hoàn; toàn cầu hóa, cách mạng khoa học – công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0…); song, những biến đổi đó không những không đối lập, mà còn làm sinh động thêm cho tính khoa học, cách mạng, đúng đắn, sáng tạo của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Trong xã hội hiện đại, sản xuất vật chất là nền tảng của xã hội; nhân tố quyết định lịch sử, xét đến cùng vẫn là sản xuất vật chất và con người vẫn là chủ thể sáng tạo lịch sử. Động lực phát triển của xã hội đã, đang và sẽ vẫn là sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Và sự phát triển của xã hội từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế – xã hội cao vẫn diễn ra như là quá trình lịch sử tự nhiên (không phụ thuộc vào ý thức và ý chí của con người).

Hai là, Kinh tế chính trị học Mác – Lênin: với học thuyết giá trị và giá trị thặng dư cùng hàng loạt quy luật (cung cầu, tự do cạnh tranh, hàng hóa, sức lao động, lợi nhuận tối đa,…) gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn tự do cạnh tranh tiến lên giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc, đã không chỉ vạch ra mục đích và bản chất đích thực của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và theo đuổi lợi nhuận tối đa; mà còn chỉ rõ những quy luật vận động phát triển cùng những mâu thuẫn, khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản mà tự nó không giải quyết được. Để giải quyết những mâu thuẫn và khuyết tật này, loài người tất yếu phải vươn mình chuyển lên hình thái kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn nền sản xuất tư bản chủ nghĩa gần hai thế kỷ qua đã chứng minh cho tính cách cách mạng, khoa học, đúng đắn của kinh tế – chính trị học Mác – Lênin rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển sẽ tạo thêm nhiều giá trị kinh tế, khoa học, công nghệ cho xã hội; đồng thời, nó càng làm cho những khuyết tật, mâu thuẫn cố hữu của nó thêm trầm trọng (nạn thất nghiệp, thất học, nghèo đói gia tăng; tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu thêm trầm trọng; các cuộc chiến tranh (truyền thống và phi truyền thống) có nguồn gốc từ mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc lan rộng,…); vì vậy, nhân loại cần hội nhập, đoàn kết, giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, tăng cường cuộc đấu tranh vì hòa binh, ngăn chặn chiến tranh (nhất là chiến tranh hạt nhân); đồng thời, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân lao động.

Ba là, Chủ nghĩa xã hội khoa học: là học thuyết khoa học về hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa (ra đời sau và ở trình độ cao hơn) sẽ thay thế hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa (theo quy luật). Nó là hệ thống tri thức khoa học không chỉ phản ánh mục tiêu lý tưởng của nhân loại phù hợp với xu thế của thời đại và là động lực thúc đẩy giai cấp công nhân, các đảng cộng sản và hàng triệu người lao động đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội; mà còn là thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận dụy vật biện chứng định hướng cho các Đảng Cộng sản xây dựng cương lĩnh, chiến lược, sách lược để biến chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý luận trở thành hiện thực trên đất nước mình và từ đó lan tỏa ra các nước.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Liên Xô vận dụng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (1927 – 1937) thành công, đưa nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự giúp đỡ của Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời gồm 13 nước do Liên Xô đứng đầu đối trọng với hệ thống tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Suốt hơn 7 thập kỷ tồn tại và phát triển, Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trở thành thành trị của cách mạng thế giới và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, vào thập niên 80 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng; Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tiến hành cải tổ và sau đó tan vỡ; trong khi đó, Trung Quốc và Việt Nam thực hiện cải cách, đổi mới thành công và hiện nay tiếp tục kiên định con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh trên, nhiều nhà nghiên cứu mác xít và không mác xít, nhất là các thế lực thù địch ở cả phương Đông và phương Tây đã lớn tiếng rằng, do sự sai lầm của chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng dẫn đến sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự tan vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời và các Đảng Cộng sản cần chấm dứt vai trò lãnh đạo của mình…..?

Với tinh thần khoa học, khách quan và thái độ cầu thị, cần trọng, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng:

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác – Lênin với tư cách là học thuyết khoa học về sự phát triển của xã hội loài người, giữ vai trò thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của loài người không chỉ giữ nguyên giá trị và ngày càng được làm giàu thêm bởi những tinh hoa văn hóa nhân loại, mà còn luôn tỏa sáng, định hướng giá trị cho sự phát triển của xã hội hiện đại và tiến bộ xã hội (những thành công và thất bại trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là những minh chứng sinh động và thuyết phục cho luận điểm này).

Thứ hai, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu dẫn đến sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, về thực chất, là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể về chủ nghĩa xã hội – “Mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết” (đang trong quá trình thử nghiệm), chứ hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học; lại càng không phải là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa với tư cách là hình thái kinh tế – xã hội mới thay thế cho hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa (theo quy luật khách quan của lịch sử).

Trên thực tế, chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách là lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội vẫn đang tồn tại, phát triển và định hướng cho hoạt động của loài người tiến bộ; còn chủ nghĩa xã hội hiện thực vừa mới ra đời với mô hình “chủ nghĩa xã hội xô viết” còn đang trong giai đoạn thử nghiệm ban đầu nên khó tránh khỏi vấp váp và đổ vỡ. Hiện nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực đang được nảy sinh trong công cuộc cải cách ở Trung Quốc và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam với những mô hình mới đã và đang đạt được những thành tựu khả quan.

Thứ ba, ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Dưới ánh sáng của thế giới quan duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật và nhân sinh quan cách mạng, cùng với việc tổng kết kinh nghiệm lịch sử và thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khái quát mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[2]. Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và quyết tâm thực hiện 5 quyết sách chiến lược (Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển…). Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới với những quyết sách trên, Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn và có ý nghĩa lịch sử[3]. Điều đó, thêm một minh chứng thuyết phục về giá trị trường tồn và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tử tường Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay.

  1. Giá trị trường tồn và sức sống mãnh liệt của tư tưởng đổi mới Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tri thức lý luận, phản ánh sinh động và sâu sắc quy luật vận động, phát triển của thế giới và thực tiễn cách mạng Việt Nam trong suốt thế kỷ XX. Trong đó, tư tưởng đổi mới là “linh hồn” và giá trị cốt lõi bao quát và xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và cả sự nghiệp cách mạng của Người. Chính tư tưởng đổi mới này là cơ sở khoa học, đã và đang làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi với dân tộc Việt Nam và loài người tiến bộ.

Thứ nhất, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh thể hiện trước hết ở quan niệm của Người về chủ nghĩa Mác-Lênin.

Là nhà mác xít, Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin không theo lối “tầm chương trích cú”, mà bằng con đường trải nghiệm thực tiễn (vừa “vô sản hóa” vừa “trí thức hóa”) để nắm bắt bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn và phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Người nói: “Học chủ nghĩa Mác – Lênin là học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình…”[4]. “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”[5]. Người nhấn mạnh: “…. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc; bất kỳ việc to, việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác-Lênin”[6].

Đặc biệt là, Hồ Chí Minh nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là học thuyết khoa học chính trị, mà còn là tinh hoa văn hóa và chủ nghĩa nhân đạo hướng tới giải phóng con người, là văn hóa ở tầng sâu nhất của các tầng giá trị trong lịch sử phát triển văn hóa nhân loại. Vì vậy, Người đã đặt chủ nghĩa Mác-Lênin trong dòng chảy di sản văn hóa nhân loại và tìm thấy mẫu số chung giữa Mác-Ăngghen-Lênin với Khổng Tử, Giêsu, Đức Phật Thích Ca….

Đồng thời, Người cũng rất trân trọng Gandhi, Tôn Trung Sơn và không quên đưa những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của Cách mạng Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp (1789) vào lời mở đầu của Tuyên ngôn đôc lập của Việt Nam (1945). Đúng như nhiều học giả nước ngoài đã nhận xét: “Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã chứa đựng triết học duy vật của Mác, tinh thần cách mạng triệt để của Lênin, đức từ bi của Phật, lòng bác ái của Gieessu, cái vô ngã của Gandhi nhưng lại rất Việt Nam, rất Hồ Chí Minh, không phải bản sao của bất cứ một vĩ nhân nào…”[7].

Thứ hai, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh là tư tưởng khoa học, cách mạng và nhân văn gắn chặt với phương châm “đĩ bất biến, ứng vạn biến” trong suy nghĩ và hành động.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh phải đương đầu với biết bao hoàn cảnh phức tạp, tình huống hiểm nguy… Song, nhờ rèn luyện được bản lĩnh chính trị, tư tưởng khoa học, cách mạng, nhân văn gắn liền với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (kiên trì mục đích và lý tưởng, giữ vững bản lĩnh và nguyên tắc chính trị kết hợp hài hòa, mềm dẻo, linh hoạt các hình thức và phương pháp hoạt động cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể…); nên Hồ Chí Minh đã vượt qua tất cả khó khăn, phức tạp để cùng với Đảng và nhân dân mình đi tới thắng lợi vẻ vang không chỉ bằng sức mạnh của ý chí, đức hy sinh và lòng dũng cảm, mà còn bằng trí tuệ khoa học, chiến lược đúng đắn và sáng tạo, sách lược và phương pháp khôn khéo, mềm dẻo, biết thu hút và tập hợp lực lượng, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại…

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” không chỉ phản ánh khái quát, phương châm sống và hành động của Người gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, mà còn thể hiện đặc trưng nổi bật trong tính cách Hồ Chí Minh: Bình tĩnh và sáng suốt, ung dung và thanh thản, làm chủ mọi hoàn cảnh, mọi tình thế nhằm giải quyết công việc nhanh nhất, có hiệu quả nhất để phục vụ nhân dân được nhiều nhất và tốt nhất. Đó là bản lĩnh và phong cách của một nhà chính trị thiên tài, dày dặn kinh nghiệm, có niềm tin mãnh liệt vào sự nghiệp cách mạng và sức mạnh vô địch của nhân dân.

Tư tưởng khoa học, cách mạng, nhân văn gắn liền với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động, phong phú, đầy thuyết phục và rất có hiệu quả trong toàn bộ sự nghiệp của Người gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đặc biệt, chúng thể hiện nổi bật trong các sự kiện cách mạng: Thành lập Đảng và chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám; Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ; Kháng chiến chống Pháp (1946 -1954); Kháng chiến chống Mỹ (1955-1975)…

Đặc biệt là, trước khi đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta bản Di chúc lịch sử. Có thể xem đây là bản thiết kế tư tưởng, lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước sau chiến tranh. Trong đó, Người chú trọng các nội dung: Đổi mới Đảng để đổi mới xã hội; Phát triển kinh tế, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hiện đại; Chăm lo đời sống của nhân dân, nhất là người có công với cách mạng và cả những nạn nhân của chế độ cũ; Xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ, thực hiện đoàn kết và hòa hợp dân tộc; Giáo dục và đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau; Tăng cường đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, trong đó chú trọng đoàn kết trong phong trào cộng sản; Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh[8]

Như vậy, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh là nhất quán, toàn diện, sâu sắc và triệt để. Nó xuyên suốt hệ thống tư tưởng của Người và bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (mà giá trị cốt lõi là tư tưởng đổi mới) đã và đang là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của cách mạng Việt Nam. Có thể nói, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong “kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” và “kỷ nguyên đổi mới để phát triển”. Chính những thành tựu vĩ đại đó cùng với giá trị truyền thống của dân tộc đã tạo ra những tiền đề và điều kiện, thế và lực mới đưa đất nước ta bước vào “kỷ nguyên mới” – kỷ nguyên vươn mình phát triển tăng tốc mạnh mẽ, toàn diện và bền vững, phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, đạt trình độ “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu”[9].

Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa

Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

——————–

[1] Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 60, tr.163

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nôi, 2011, tr.70

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nôi, 2006, tr.67

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.95

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.208

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.290

[7] Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1992, tr.61

[8] Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.625

[9] GS.TS Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 01/11/2024.