(LHH – TP.HCM) – Ngày 5/11/2026, Hội thảo khoa học “An ninh nguồn nước và đổi mới công nghệ bảo đảm cấp nước an toàn cho Thành phố Hồ Chí Minh” được phối hợp tổ chức bởi Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và Hội Nước và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra tại Trung Tâm Hội Chợ và Triển Lãm Sài Gòn – SECC, trong khuôn khổ Vietwater 2026.

Hiện nay, TP.HCM đang đứng trước áp lực lớn từ hạn hán, nước biển dâng và hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào khu vực thu nước thô. Bên cạnh đó, tình trạng suy giảm chất lượng nước mặt hạ lưu cùng ô nhiễm từ các hoạt động kinh tế và sinh hoạt khiến bài toán bảo đảm nguồn nước sạch trở nên cấp thiết.

Tại hội thảo, các báo cáo chỉ ra rằng hệ thống cấp nước của Thành phố phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước thô từ lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Nguồn nước tổng thể không thiếu cả năm nhưng sự phân bố dòng chảy theo mùa bất lợi cùng rủi ro từ thượng nguồn làm giảm khả năng điều tiết của các hồ chứa. Sự hiện diện của các chất ô nhiễm mới nổi như vi nhựa, dược phẩm và hợp chất hữu cơ khó phân hủy đang đặt ra thử thách lớn cho các dây chuyền xử lý truyền thống. Tỷ lệ thất thoát nước sạch trên mạng lưới truyền tải cũng gây ra lãng phí nguồn lực tài chính lớn mỗi năm.
Để ứng phó với thách thức, các giải pháp đồng bộ và đột phá đã được đề xuất nhằm bảo vệ vững chắc an ninh nguồn nước đến năm 2050.

Trình bày về các kịch bản rủi ro khí hậu tác động đến hệ thống cấp nước, GS.TS Nguyễn Kim Lợi – Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM – phân tích sự cộng hưởng bất lợi giữa hạn hán, triều cường và nước biển dâng làm ranh mặn tiến sâu vào nội địa. Nhằm nâng cao năng lực ứng phó chủ động, GS.TS Nguyễn Kim Lợi đề xuất xây dựng hệ thống quan trắc tự động kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu viễn thám để dự báo, cảnh báo sớm tình hình xâm nhập mặn trên hệ thống sông rạch Thành phố.

Dưới góc độ kỹ thuật công nghệ xử lý, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Phượng – Viện trưởng Viện Công nghiệp Môi trường – nhấn mạnh thách thức từ sự xuất hiện đồng thời của các chất ô nhiễm mới nổi như PFAS, vi nhựa, dược phẩm và hợp chất rối loạn nội tiết trong nguồn nước thô. Báo cáo khẳng định không có công nghệ đơn lẻ nào xử lý triệt để mọi loại chất ô nhiễm, đòi hỏi phải áp dụng mô hình xử lý đa hàng rào dựa trên đặc tính của từng nhóm chất. Tác giả đề xuất lộ trình áp dụng công nghệ theo ba giai đoạn: ngắn hạn ưu tiên các giải pháp nền tảng như Ozone–BAC, GAC, màng lọc; trung hạn thử nghiệm màng phản ứng REM; và dài hạn nghiên cứu ứng dụng công nghệ plasma không nhiệt hoặc điện oxy hóa kết hợp vận hành nhà máy nước thông minh.

Đánh giá về hạ tầng và năng lực ứng phó sự cố, PGS.TS Trần Đăng An – Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi tại TP.HCM – chỉ ra rằng hệ thống cấp nước Thành phố phụ thuộc tới 96% vào nguồn nước mặt, đối mặt rủi ro gián đoạn lớn nếu xảy ra ô nhiễm nguồn sông chính hoặc sự cố vỡ tuyến ống truyền tải cỡ lớn. Từ các kịch bản mô phỏng thủy lực, tác giả kiến nghị nâng dung tích cụm hồ trữ nước thô hệ sông Đồng Nai lên khoảng 19 triệu m³ và xây dựng bổ sung các bể chứa nước sạch dung tích lớn tại các vị trí xung yếu. Bên cạnh đó, báo cáo đề xuất thành lập Ban điều hành cấp nước khẩn cấp và tổ chức diễn tập định kỳ giữa các đơn vị vận hành để sẵn sàng ứng phó trong 72 giờ đầu khi xảy ra sự cố.

Các nhà khoa học khuyến nghị áp dụng các tổ hợp công nghệ nâng cấp hiện đại như ozone kết hợp than hoạt tính và lọc sinh học để xử lý sâu chất ô nhiễm. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trạm quan trắc tự động và mô hình bản sao số giúp tối ưu hóa vận hành, dự báo sớm rò rỉ cũng như diễn biến xâm nhập mặn. Đầu tư xây dựng các cụm hồ trữ nước thô chiến lược, dịch chuyển điểm thu nước lên thượng nguồn và kết nối liên mạng lưới vùng được coi là đòn bẩy then chốt giúp nâng cao năng lực dự phòng khẩn cấp cho Thành phố.

Về khung chiến lược an ninh nguồn nước đến năm 2050 cho TP.HCM, GS.TS Nguyễn Văn Phước – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường TP.HCM – nhấn mạnh 5 yêu cầu cốt lõi gồm bảo đảm nguồn nước đủ lượng, đạt chất lượng, cấp nước liên tục, công bằng và bền vững sinh thái. “Hướng đến xây dựng hệ thống cấp nước thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn trong tái sử dụng nước, ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) để tối ưu hóa quyết định vận hành, điều tiết nguồn nước liên vùng”, GS.TS. Nguyễn Văn Phước phát biểu.

Tin, ảnh: Bích Ty



